• Share Button

     Cận thị ( tên khoa học là MIOPIA) là hiện tượng rối loạn thị giác, khi đó con người chỉ có khả năng phân biệt các chi tiết nhỏ của các vật và hình ảnh nằm trong cự ly gần, cũng như chính những vật đó khi nằm ở cự ly xa sẽ được ghi nhận lại một cách lờ mờ không rõ nét. Vật càng nằm ở cự ly xa bao nhiêu thì mắt người nhìn thấy vật đó càng kém bấy nhiêu.


     

    Tính chất vật lý của sự rối loạn khúc xạ ở bệnh cận thị rất đơn giản: Hình ảnh của vật nhìn thấy không được hội tụ trên võng mạc như mắt bình hường mà là hội tụ ở trước võng mạc, vì vậy mà người cận thị khi nhìn vật ở cự ly xa sẽ không rõ nét.

     

    Hiện tượng này xảy ra hoặc có thể do: 

    • Giác mạc và thể thuỷ tinh làm khúc xạ ánh sáng quá mạnh.
    • Trục nhãn cầu của người bệnh dài hơn bình thường nên võng mạc bị đẩy lùi ra xa hơn tiêu điểm. Bình thường, trục nhãn cầu dài khoảng 23 mm. Ở những người cận thị,số đo này có thể là 30 mm hoặc dài hơn. Khi trục nhãn cầu dài hơn mỗi milimét sẽ làm cho số độ cận tăng thêm 3 D
    Ảnh của vật hội tụ trước võng mạc

     

    CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN CẬN THỊ

    Có nhiều nguyên nhân gây cận thị. Những nguyên nhân chính có thể kể đến là : 

    - Đọc sách hoặc làm việc phải dùng mắt nhìn chăm chú thời gian dài ở khoảng cách gần, trong điều kiện ánh sáng kém.

    - Yếu tố di truyền, do một số đặc điểm cấu trúc nhãn cầu hoặc khác biệt về trao đổi chất trong cơ thể.

    - Củng mạc yếu do cấu trúc đặc biệt của các sợi mô liên kết của bệnh nhân nên không giữ được thành nhãn cầu ổn định.

    - Do cơ thể mi kém phát triển, không đủ khả năng điều tiết để làm cho con mắt thích ứng với các cự ly nhìn khác nhau. Cơ thể mi yếu phải gắng sức thường xuyên sẽ làm tăng nguy cơ bị cận thị.

    Trong trường hợp cận thị không phải  dạng bẩm sinh mà thường xuất hiện nhiều hơn  trẻ em  đ tuổi từ 10 -16 tuổi trong quá trình phát triển của nhãn cầu mắt.

     Đặc thù nhất định về giải phẫu học về mắt, các yếu tố mang tính di truyền , đồng thời cận thị cũng có thể được gây ra bởi các nguyên nhân gây hại như stress, mắt làm việc quá mức, do mắc bệnh về mắt nói chung, do môi trường ô nhiễm nặng và nhiều nguyên nhân khác.

     

    BIỂU HIỆN CỦA CẬN THỊ

    Bình thường, cận thị xảy ra khi trẻ còn nhỏ và dễ dàng nhận thấy ở tuổi đến trường. Trẻ nhìn kém những vật ở xa, không phân biệt được chữ,số trên bảng và phải cố gắng đến gần tivi hoặc ngồi ghế đầu trong rạp chiếu phim. Khi cần nhìn rõ các vật có thể thấy những người cận thị hay nheo mắt. Ngoài thị lực nhìn xa giảm, những người bị cận thị còn nhìn kém lúc sẩm tối nên buổi chiều tối họ đi lại trên phố cũng như lái ô tô kém hơn.  Để nhìn tốt hơn, người bị cận thị phải đeo kính tiếp xúc hoặc đeo kính cận. Đôi khi họ phải thay mắt kính. Cần biết rằng đeo kính không giúp làm ngừng cận thị tiến triển mà chỉ điều chỉnh được  số kính. Nếu thị lực giảm, thường cần phải đổi số kính cao hơn do tăng độ cận.

    CÁC DẠNG CẬN THỊ

    1/ Cận thị đơn thuần hay còn gọi là cận thị khúc xạ.
    Xảy ra do lực khúc xạ của mắt quá lớn, (do lực khúc xạ của giác mạc hoặc thể thủy tinh quy định) trong khi chiều dài trục nhãn cầu bình thường.

    Có độ cận thị thường dưới 6D và không có tổn thương đáy mắt. Loại cận thị này hay bắt đầu ở tuổi đi học.

    Sự phát triển nhanh hay chậm của cận thị là tùy thuộc vào lứa tuổi bắt đầu bị cận. Nếu dưới 8 tuổi bị cận thì mỗi năm sẽ tăng lên 1D. Nếu từ 8 đến 10 tuổi mới bắt đầu bị cận thì mỗi năm nặng thêm 0.7D. Trong những mắt cận bắt đầu từ sau 10 tuổi thì cứ 3 năm phát triển thêm 1D. Dù cận thị bắt đầu ở lứa tuổi nào, cũng phát triển trong vòng 3 hoặc 4 năm thì ngừng, nhưng sau đó, có thể có những đợt phát triển mới làm cho mắt càng nặng, như trong thời kỳ thai nghén, khi mắc một bệnh nặng như lao, thương tật…

    Cận thị biểu hiện chủ yếu bằng thị lực giảm khi nhìn xa, còn nhìn gần vẫn bình thường. Một người cận thị cảm thấy không còn đọc rõ chữ trên bảng nữa, đi xem chiếu bóng trông hình ảnh rất mờ, khám mắt thấy thị lực nhìn xa giảm sút trầm trọng. Thật vậy, với mỗi mức độ cận thị sẽ tương ứng với một thị lực khoảng

    Độ cận thị  -0.5D   có thị lực               4/10

    Độ cận thị  -1D      có thị lực              2/10 

    Độ cận thị  -1.5D   có thị lực               1/10

    Độ cận thị  >2D     có thị lực             <1/10

    Muốn nhìn rõ hơn, người cận thị luôn luôn nheo mắt. Tật nheo mắt này cho phép chẩn đoán dễ dàng tật cận thị. Ngược với nhìn xa, người cận thị nhẹ nhìn gần rất tốt, họ đọc sách với chữ rất nhỏ mà không cần mang kính, miễn sao có khoảng cách đúng tầm.

    Nguyên nhân:

    Cho đến nay vẫn còn một số người cho rằng làm việc phải nhìn gần nhiều sẽ dễ bị cận thị. Dẫn chứng là đối với học sinh thì cấp 3 nhiều cận thị hơn cấp 2, cấp 2 nhiều hơn cấp 1. Một dẫn chứng khác là ở người lao động trí óc hay ở những người làm việc phải nhìn gần (thợ đồng hồ, công nhân in…) thì tỉ lệ cận thị cao hơn nhiều so với những người khác. 

    Tuy vậy nhưng càng ngày càng có nhiều người không thừa nhận những nguyên nhân như trên. Họ cho rằng nếu các em ở cấp 3 cận thị nhiều hơn cấp 2 và cấp 2 nhiều hơn cấp 1 là vì cận thị thường bắt đầu xuất hiện sau 10 tuổi. Nói cận thị học đường, chính là ý nói cận thị phát sinh trong tuổi đương đi học, là tuổi phát triển của các em, mà không có nghĩa học đường là nguyên nhân của cận thị. Mặt khác, chúng ta cũng thấy có những trường hợp cận thị bắt đầu rất sớm (trước 8 tuổi) và phát triển đến 11 tuổi thì ngừng.

    Ngày nay, người ta có xu hướng nhấn mạnh đến yếu tố di truyền; người ta có nhận xét là tỷ lệ cận thị rất thay đổi tùy theo giống người. Tỷ dụ như người Anhđiêng ở Mêhicô không bao giờ bị cận thị, dân tộc Palinêgrít ở Châu Phi tỷ lệ bị cận thị rất thấp (0.14%). Ngược lại, các giống người Anhđu (Châu Á), Đức (Châu Âu) bị cận thị khá nhiều.

    Thử kính mắt cận thị

    Bệnh nhân cũng đứng cách bảng thị lực 5m, đặt trước từng mắt, kính -1D. Nếu mắt chính thị hay viễn thị có lực điều tiết tốt (ở người trẻ) thì thị lực gần như không bị ảnh hưởng, chỉ giảm đi khi lực điều tiết kém (người lớn tuổi). Nhưng nếu là cận thị thì thị lực sẽ tăng rõ. Ta lần lượt cho những kính phân kỳ có số cao dần, thị lực sẽ tăng mãi cho đến mức tối đa (có thể 10/10 hay hơn nữa). Nếu ta cứ tiếp tục tăng số kính lên thì có thể thị lực vẫn cao như vậy ở vài số tiếp sau, rồi sẽ tụt xuống. Độ cận thị là: kính phân kỳ có số nhỏ nhất cho thị lực nhìn xa cao nhất.

    Thí dụ: Một mắt có độ cận thị là -4D, ta lần lượt cho các số kính từ -1, -2, -3 rồi -4. Với kính -4D sẽ cho thị lực cao nhất tới 10/10. Nếu ta tăng số kính lên nữa như -5, -6 thị lực có thể vẫn 10/10, như vậy là ta đã biến con mắt cận thị trở thành viễn thị, nhưng nhờ có sức điều tiết tốt, nên mắt vẫn nhìn rõ. Vậy số kính đo độ cận thị đúng là -4D.

    Tuy vậy, phương pháp trên vẫn dựa vào sự nhận thức chủ quan của bệnh nhân là chính. Muốn xác định thật chính xác mức độ cận thị, người bệnh cần được khám kỹ lưỡng đầy đủ một quy trình chuẩn của Bác sĩ chuyên khoa mắt, đặc biệt là đối với trẻ em.

    Nguyên tắc điều chỉnh cận thị bằng kính

    - Không mang kính có làm cho cận thị nặng thêm không?

    Rõ ràng là không. Nhiều trường hợp mang kính thường xuyên, nhưng không hề làm ngừng quá trình phát triển của cận thị và ngược lại những trường hợp khác không đeo kính, nhưng cận thị vẫn ổn định.

    - Mang kính có làm cận thị nặng lên không?

    Không. Chỉ khi nào dùng kính không thích hợp thì khi bỏ kính, mắt sẽ có cảm giác như nặng lên.

    Tóm lại, kính không có tác dụng gì đối với sự tiến triển của cận thị. Nhưng kính lại rất cần thiết cho sự phát triển hài hòa của thị giác 2 mắt và sự phối hợp động tác điều tiết – quy tụ. Bởi vậy, rất nên và phải dùng kính đối với mắt cận thị. Nhưng không nên đeo thường xuyên. Đối với trẻ em, chỉ cần đeo kính trong lớp học để dễ dàng nhìn bảng và khi nhìn gần là lúc tập luyện cho động tác phối hợp giữa điều tiết và quy tụ. Đối với người lớn thì phải xét đến công việc cụ thể của từng người mà sử dụng kính cho thích hợp. Một điều cần phải hết sức chú ý là không được đeo kính quá số, vì như vậy sẽ gây ra một sự co kéo thường xuyên của cơ thể mi để trung hòa phần kính quá số, sẽ gây mỏi mắt, nhức đầu.

    2/ Cận thị bệnh hay còn gọi là cận thị trục

    Xảy ra do trục nhãn cầu quá dài, trong khi lực khúc xạ của mắt bình thường. Trục nhãn cầu bị dài ra nguyên nhân là do cấu trúc của thành nhãn cầu bị dãn mỏng. Loại cận thị này thường có tính chất gia đình và thường xảy ra rất sớm ngay khi trẻ còn nhỏ tuổi, chưa đi học. Cận thị tiến triển rất nhanh, làm thị lực giảm sút nhiều, đồng thời làm võng mạc bị dãn mỏng dễ dẫn tới nguy cơ thoái hóa hắc võng mạc, rách võng mạc, thậm chí gây bong võng mạc dẫn tới mù lòa. 

    Cận thị bệnh thường >-7D, có khi tới -20 hoặc -30D và nhất là có tổn hại ở đáy mắt.

    Thị lực rất thấp khi chưa điều chỉnh bằng kính. Dù với kính thích hợp nhất, thị lực thường chỉ đạt tới 4 – 5/10, có khi chỉ 1/10 hoặc 2/10. 

    Do nhãn cầu dài nên mắt hơi lồi, nhận thấy rất rõ khi cận thị 1 bên.

    Cận thị bệnh tiến triển theo từng đợt cấp diễn xen giữa những giai đoạn dài ổn định. Khi bệnh nặng lên nhanh chóng, người ta gọi là cận thị ác tính. Cận thị tăng lên từng năm, đôi khi khó xác định là chỉ do cận thị hay còn có sự tham gia của thể thủy tinh bị xơ cứng.

    Thị lực giảm dần đi và càng ngày càng khó điều chỉnh bằng kính. Các chức năng khác của mắt cũng suy giảm rất sớm; thị trường bị tổn hại rất nhiều, mắt thích nghi trong tối rất kém. 

    Ở đáy mắt có nhiều đám thoái hóa hắc võng mạc rất điển hình, những đám này tròn trắng hay nhiều vòng. Đó là củng mạc được nhìn qua võng và hắc mạc đã bị teo. Lúc đầu, những đám này nhỏ, sau tập trung lên thành một mảng rộng. Thường gặp những tổn hại này ở cực sau, hình thái khá giống với một sẹo của viêm hắc mạc. Vì vậy người ta thường hay gọi là viêm hắc võng mạc cận thị.

    Trong khi tiến triển, cận thị còn kèm theo chảy máu, nhất là ở vùng hoàng điểm. Vết máu rút đi nhanh chóng và để lại một vệt đen gọi là vệt Fuchs.

    Về biến chứng thì thường gặp nhất và cũng khốc liệt nhất là bong võng mạc, nếu không xử trí kịp thời và đúng sẽ mù vĩnh viễn. Một điều cần hết sức lưu ý là bệnh glocom phát triển ở trên những mắt này rất dễ bị bỏ qua vì sự mềm giãn của củng mạc làm cho nhãn áp như không cao, đến khi mắt mù mà vẫn tưởng nguyên nhân chỉ là cận thị.

    XEM PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH CẬN THỊ

    Mắt Việt Nga
    Khai trương phòng khám đa khoa quốc tế Việt - Nga