• Share Button

    Sự thích nghi là năng lực thể hiện rõ hình ảnh trên võng mạc của đối tượng tốn tại lúc gần lúc xa. Ở mắt người thì thủy tinh thể giữ vai trò rất quan trọng trong sự điều chỉnh có thay đổi mặt cong của nó. Lực vận động làm chuyển đổi thủy tinh thể mắt là từ các cơ mi được chuyển tải qua các vùng mi nhỏ.

    Về cơ chế thích nghi thì cho đến nay có nhiều giả thuyết trái ngược nhau, trong đó thuyết thư giãn theo Helmholtz. Thuyết này nhấn mạnh là thủy tinh thể trong trạng thái nghỉ hoặc khi nhìn xa giữ mặt phẳng bằng lực kéo của các vùng nhỏ và khi các cơ mi ở thế nghịch lại và đỉnh mi nhỏ lại thì các vùng nhỏ thư giãn và thủy tinh thể làm tăng mặt cong của mình bằng sự tự co giãn, về mặt lâm sàng được xem là thích hợp nhất.
    Điều tiết mắt
    Nhưng chống lại thuyết thư giãn thụ động này có nhiều ý kiến khác nhau, ví dụ như thuyết căng thẳng của Tscheming.

    Thời gian qua thuyết thần kinh hóa song đôi để thích nghi gọi là thần kinh hóa giao cảm để nhìn xa và thần kinh hóa phó cảm để nhìn gần ngày càng có thế lực.

    Mức độ thích nghi được thể hiện bằng lực khúc xạ của thủy tinh thể vì hiệu lực thích nghi, ví dụ với khoảng cách vật 0.5 mắt bằng đặt trước thủy tinh thể 2 điôp. Cũng bằng cách đó, để nhìn khoảng cách vật 0.25 mắt người ta cần 4 điôp thích nghi. Điôp là đơn vị của lực phản xạ thủy tinh thể. Thủy tinh thể lồi (thấu kính lồi – hội tụ) ở khoảng cách tiêu điểm 1 mắt được biểu thị bằng +1.0 điôp. Bằng cách đó thì biểu thị khoảng cách tiêu điểm 0.5 mắt bằng +2.0 điôp và ở trường hợp thủy tinh thể lõm (thấu kính lõm phân kỳ) thì người ta lấy dấu (-) thay cho dấu (+).

    – Điểm gần (punctum proximum) là điểm có thể nhìn thấy rõ với sự thích nghi tối đa và điểm xa (punctum remotum) là điểm dừng của sự thích nghi.

    – Những điểm bất kỳ ở trên vùng giữa điểm gần và điểm xa được nhìn thấy rõ bằng sự thích nghi phù hợp. Vì vậy vùng này được gọi là vùng thích nghi (akomoda regiono) hoặc vùng triển khai (amplekso), nó được thể hiện trên danh nghĩa là lực thích nghi (akomodo-potenco).

    – Ví dụ nếu người mắt bình thường có điểm cách gần là 20 cm thì lực thích nghi tối đa là 100/20: 5 điôp và mặt khác vì điểm xa của anh ta là khoảng cách vô hạn, nên vùng thích nghi hoặc thích nghi của anh ta được thề hiện bằng công thức sau:

    Lực thích nghi (A) = 1/đoạn gần (P) – 1/đoạn xa (R)

    Trong trường hợp này thì: A = 100/20 – 1/∞ = 5 điôp và vùng thích nghi trải rộng từ 20 cm trước mắt tới điểm xa vô tận:

    – Trường hợp người mắt cận thị có điểm gần là: 10 cm và điểm xa là 50 cm thì lực thích nghi là: 100/10 – 100/50 = 10 – 2 = 8 D.

    Người viễn thị có điểm xa sau mắt và nếu điểm gần của anh ta là 20 cm trước mắt và điểm xa là 100 cm sau mắt thì lực thích nghi của anh ta là: 100/20 + 100/100 = 5 + 1 = 6 D.

    Lực thích nghi giảm bớt đi theo tuổi theo trình bày ở sơ đồ của Ishihara, Doders hoặc Duane.

    Khi người ta ở độ 40 tuổi thì lực thích nghi là 4 điôp, tức là điểm gần ở 25 cm., ở khoảng cách này người ta còn có thể làm được công việc gần như đọc, viết,… Khi người ta đã 50 tuổi thì lực thích nghi trung bình giảm đi đến 1 điôp, điểm gần không đến 1 m. Trong trạng thái này người ta không còn có thể đọc hoặc viết… Trạng thái khó khăn làm việc gần này được gọi là viễn thị tuổi già (presbiopo) (khả năng nhìn của người già).

    – Nói chung có thể khẳng định là người viễn thị tuổi già chỉ gặp khó khăn (trở ngại, lúng túng) trong các lao động gần do tuổi già và người cận thị  (miopulo) mắc phải muộn hơn và người viễn thị (hiperopulo) mắc phải sớm hơn, nhưng điều khẳng định này còn sai lầm.

    Viễn thị tuổi già (presbiopo) phải được xem như là hiện tượng bộ phận của sự suy yếu chung của tuổi già phải chịu đựng. Còn người mắt bình thường và người viễn thị hoàn toàn không khác nhau, nói cách khác người ta phải xử lý viễn thị người già không phải như là kiểu hiện tượng (phénotype) mà như là kiểu di truyền (génotype) vì rằng nguyên nhân lão nhãn nằm ở sự kém đàn hồi của vỏ thấu kính (thủy tinh thể). Trạng thái bệnh lý của sự thích nghi là sự tê liệt, co giật và suy nhược.

    – Chứng liệt thích nghi gây ra do các loại thuốc làm giãn nở đồng tử (atropin, homotropin, skopolamino, dẫn xuất beladona), chứng ngộ độc thịt (botulismo) hoặc các độc tố bạch hầu.

    – Sự liệt thích nghi, nói chung có kèm theo liệt giãn nở đồng tử và cũng có khi được gọi là bệnh liệt gân mắt (oftalmoplegio), trừ chứng liệt thích nghi sau bệnh bạch hầu về nguyên tắc là bệnh riêng và không giãn nở đồng tử.

    Nếu sự thích nghi tê liệt, bệnh nhân chỉ có thể nhìn thấy điểm xa, vì vậy người mắt bình thường gặp khó khăn khi nhìn gần, người cận thị không vất vả lắm, người viễn thị không thấy cả gần lẫn xa và người loạn thị thấy lờ mờ thế giới bên ngoài. Sự nhìn khó khăn này giống phần nào chứng viễn thị lão suy và thường bị gọi sai lầm là chứng viễn thị tuổi già trước tuổi.

    – Chứng co giật thích nghi (spasmode akomodo) giống triệu chứng cận thị và bị gọi là chứng giả cận thị (pseudomiopeco). Nó thường kèm theo chứng suy giảm thần kinh mắt (miozo) (phân bào giảm nhiễm).

    – Chứng suy nhược thích nghi (asteniodeakomodo) là trạng thái mỏi mệt của sự thích nghi, trong đó điểm gần bị xa dần khi kiểm tra lặp lại. Trạng thái này thường do suy yếu chung, do suy nhược thần kinh hoặc thiếu vitamin B v.v…


    Mắt Việt Nga